12/4/2015 1:02:28 PM

Tháng 5, chúng con về thăm quê Bác

(Ghi chép chuyến thăm quê Bác và miền Bắc Trung bộ do Chi bộ và Công đoàn Thư viện tỉnh tổ chức từ 29/4/2012 – 05/5/2012)

     5 giờ ngày 29/4/2012, xe bắt đầu chuyển bánh từ thành phố biển Vũng Tàu. Đoàn chúng tôi đi trong rợp bóng cờ hoa, cả nước tưng bừng chào đón lần thứ 37 ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Hai mươi mốt thành viên của đoàn cười nói râm ran, thi thoảng lại có câu chuyện tiếu lâm không nhịn được cười và làm cho chặng đường phía trước như ngắn lại. Cách đây 4 năm, cũng đi trên đoạn đường này, nhưng nay đã có nhiều đổi thay: nhà cửa mọc lên nhiều, to hơn, đẹp hơn, cây cối như xanh tốt hơn…Còn khoảng 20km nữa sẽ đi qua thành phố Tuy Hòa, bỗng dưng xe chúng tôi bị công an thổi còi dừng lại, cả đoàn ngơ ngác, kể cả lái xe cũng không hiểu mình vi phạm lỗi gì. Hóa ra, cách đó khoảng 5km, khi đi vào khúc cua xe cán vạch sơn liền giữa đường. Mất khoảng 15 phút, đồng chí công an giải thích lý do, biết đoàn cán bộ văn hóa tỉnh BRVT về thăm quê Bác, công an chỉ nhắc nhở và chúc đoàn thượng lộ bình an. Tôi nắm chặt tay đồng chí công an để cảm ơn và thay cho một lời xin lỗi. Âu đấy cũng là một bài học khi tham gia giao thông.

     Đêm đầu tiên ngủ lại Quy Nhơn. Trong ánh sáng huyền ảo, lung linh của phố biển, tôi chợt nhớ Hàn Mặc Tử - một thi sỹ sinh ra bên biển, sống ven biển, sáng tác thành danh ven biển và yên nghỉ trọn đời cũng ven biển. Cuộc đời ông tài hoa nhưng bạc mệnh “Hàn Mặc Tử, quay về quê cũ, dấu thân trong nhà hoang…” Trong tiếng sóng vỗ rì rào của biển, tiếng hát ai vọng lại nghe mà man mác buồn thương đến nao lòng.

     Từ Quy Nhơn, xe lại lăn bánh hướng ra Bắc. Mới đó mà đã 37 năm, cũng ngày tháng này, cả nước xuống đường hò reo mừng vui miền Nam hoàn toàn giải phóng. Một cuộc chiến tranh dài ngày nhất, ác liệt nhất, với những vũ khí tân kỳ nhất mà đế quốc Mỹ đã sử dụng ở miền Nam Việt Nam đã kết thúc. “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” đó không chỉ là ước muốn, là quyết tâm sắt đá, là tư tưởng chỉ đạo ở tầm chiến lược, mà còn là dự báo thiên tài của chủ tịch Hồ Chí Minh. Thưa Bác, lời Bác dặn cả dân tộc đã thực hiện trọn vẹn sau 6 năm Người đi xa. Để rồi hôm nay cả hai miền từng ngày, từng giờ thay da, đổi thịt và tiếp tục vững bước đi trên con đường Người lựa chọn cho dân tộc Việt Nam từ những năm 20 của thế kỷ XX.

     Mùa này, con sông Trà như đang thu mình lại, nhưng nó vẫn uốn mình tắm mát cho quê hương xứ Quảng và cho mộ cụ Huỳnh Thúc Kháng. Mỗi lần qua đây, trong tôi lại ùa về bao câu chuyện qua những trang sách đã đọc về cụ Huỳnh. Sau cách mạng tháng Tám thắng lợi, Bác Hồ đã hai lần điện mời cụ Huỳnh ra làm việc giúp ích cho nước, cho dân. Cụ Huỳnh là một nhà yêu nước, cụ đậu đến tiến sỹ, trong thâm tâm, vì tuổi đã già, cụ không muốn gánh vác công việc thêm nữa, mà theo cụ là để cho lớp trẻ. Nhưng Bác Hồ đã thuyết phục được cụ qua vài lần tiếp xúc. Bác giao cho Cụ chức vụ Bộ trưởng Bộ Nội vụ; tháng 5/1946 đi thăm Pháp hơn 3 tháng, Bác đã trao cho cụ Huỳnh Quyền Chủ tịch nước. Bác Hồ luôn coi cụ Huỳnh như người thân, chị Thanh ra thăm biếu Bác chai tương Nam Đàn, Bác mời cụ Huỳnh đến dùng cơm để cùng thưởng thức hương vị quê hương xứ Nghệ. Cụ là người tài cao, đức trọng nhưng lại hài hước bác học như ông đồ xứ Nghệ. Năm 1946, vừa vào đến cửa phòng Bác, Cụ ứng tác ngay hai câu thơ: “Năm mươi sáu tuổi vẫn chưa già/Cụ ông thấy, Cụ bà không?”. Biết cụ Huỳnh đang nói về việc riêng tư của mình, Bác chỉ cười và lãng sang câu chuyện khác. Nhưng thời gian sang thăm Pháp, giữa bộn bề công việc, Bác vẫn không quên câu chuyện đó. Bác đã gửi cho cụ Huỳnh bức điện thư với bốn câu thơ hóm hỉnh không kém: “Nghĩ chẳng ra thơ để trả lời/Nhớ ơn cụ lắm, cụ Huỳnh ơi/Non sông một mối chung nhau gánh/Độc lập xong rồi cưới vợ thôi”. Cuối năm 1946, Bác cử Cụ đi kinh lý miền Trung và miền Nam Trung bộ. Tháng 4/1946, tại Quảng Ngãi, cụ bệnh nặng và mất ở đây. Sau này mỗi lần nhắc đến cụ Huỳnh, Bác Hồ đều rơi lệ.

     Đêm 30/4, chúng tôi nghỉ lại ở Đông Hà. Cái nóng hầm hập ở đây cũng không thể phai đi sự rộn ràng náo nức của Đảng bộ, quân và dân Quảng Trị chuẩn bị lễ kỷ niệm 37 năm ngày miền Nam giải phóng và 40 năm ngày diễn ra những trận đánh khốc liệt tại Thành Cổ. Đoàn loay hoay tìm nơi nghỉ, nghe nói lãnh đạo Quảng Trị mời gần 2000 khách các tỉnh bạn; hóa ra là vậy, thôi đành nghỉ tạm ở nơi không thật ưng ý, nhưng không ai có tiếng phàn nàn nào cả, cảm thông cho Quảng Trị, một tỉnh còn nghèo ở miền Trung Bắc bộ!

     Đoàn viếng nghĩa trang Trường Sơn đúng vào ngày Quốc tế lao động 1/5. Với đạo lý uống nước, nhớ nguồn, chúng tôi nghiêng mình thắp nén nhang cùng bó hoa tươi thắm tại đài tưởng niệm trung tâm để tưởng nhớ, tri ân 10.263 liệt sỹ yên nghỉ mãi mãi nơi đây. Giữa bạt ngàn Trường Sơn hùng vĩ, bắt đầu màu xanh đang trở lại và mát lòng hơn khi linh hồn các anh ở nơi đây không hề cô đơn. Gặp chị Nguyễn Thị Bé, người phục vụ đã gắn bó với nghĩa trang Trường sơn từ những ngày đầu, tôi hỏi: Các đoàn về đây nhiều không chị? Chị nói: Những ngày lễ như thế này thì nhiều vô kể, còn những ngày thường cũng khá đông. Tôi hỏi: Chi ơi, chị là người gắn bó lâu năm ở đây, theo chị có linh hồn không? Ánh mắt của chị như rực sáng lên: Có chứ! Ban quản lý nghĩa trang Trường Sơn chỉ có 20 người, trong đó 2/3 làm quản lý, chỉ có 1/3 là lao động trực tiếp. Chị bảo: Công việc làm không xuể, nhất là mùa mưa đến bởi diện tích nghĩa trang rộng tới 40 ha. Tuy vất vã nhưng các anh, các chị ở đây vẫn rất yêu và nguyện suốt đời gắn bó với công việc này. Chị tâm sự: những người ở đây là đồng đội của chị và của chồng chị. Chị làm việc để phần nào bù đắp những hy sinh mất mát quá lớn của các anh, gian khổ mấy mọi người cũng chịu được. Năm nay chị cũng đã đến tuổi nghỉ hưu(Thế là chị bằng tuổi với tôi đấy), chị rất vui thông báo với tôi rằng: Chị vừa xin được cho thằng con đầu vào làm bảo vệ ở nghĩa trang này. Tôi hiểu chị vui vì nhiều lẽ, nhưng trong con người ấy niềm vui nhất lại là đã có người nối nghiệp chị phục vụ, canh giữ bình an cho giấc ngủ ngàn thu của các chiến sỹ. Tạm biệt nghĩa trang Trường Sơn, tôi đưa chị mấy trăm ngàn đồng, nhờ chị thỉnh thoảng thắp hộ nén nhang tưởng nhớ đến  các  chiến sỹ đã chiến đấu anh dũng, ngoan cường, hy sinh vì quê hương, đất nước thân yêu.

     Từ Đông Hà, đoàn chúng tôi theo con đường Hồ Chí Minh ra quê Bác. Chỉ mấy tiếng đồng hồ nữa là qua Hương Sơn quê tôi. Một vùng sơn cước đầy nắng và gió lào đến khô người. Nhưng kỳ lạ thay, vùng đồi núi “chó ăn đá, gà ăn sỏi” này đã trở thành những ruộng đồng xanh ngắt của lúa, ngô. Người dân quê tôi lam lũ, chịu khó, chịu thương và chính họ đã tạo nên một miền quê mang đậm chất thơ: “Đường vô xứ Nghệ quanh quanh/Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”. Ngày 2/5, đoàn chúng tôi lên núi Đại Huệ, thắp nén nhang cho bà Hoàng Thị Loan - thân mẫu của Bác, cho bà Hà Thị Hy - bà nội của Bác, cho Nguyễn Sinh Xin - đứa em trai xấu số của Bác. Bà Loan ra đi ở tuổi 33, khi bên cạnh bà lúc đó chỉ có Bác, ông Sinh Sắc cùng anh cả Khiêm đang ở Thanh Hóa, chị Thanh đang ở Nam Đàn. Bác lúc đó mới 11 tuổi, đã cùng và bà con thành phố Huế đưa mẹ mình đến nơi an nghỉ cuối cùng. Sinh thời Bác thích nhất là hoa huệ, vì vậy mà đã có người gán ghép sở thích này sang một tình tiết lịch sử khác. Họ nói rằng: Vì người yêu Bác có tên là Lê Thị Huệ, con ông Lê Công Hiệp, quan Bộ Công của triều đình nhà Nguyễn, nên Bác mới thích hoa huệ nhất. Thực tình không phải như vậy, khi Bác về thăm quê, Bác  nói một chi tiết liên quan đến vấn đề này: Đêm đêm ngồi bên linh cửu mẹ, mùi hoa huệ hòa quyện với mùi nhang tỏa xuống làm cho Bác suốt đời không thể nào quên được!

     Về làng Hoàng Trù quê ngoại và làng Sen quê nội của Bác khi ở đây đang chuẩn bị chào đón lần thứ 122 năm ngày sinh của Bác. Năm 1972, khi còn học lớp 7 tôi đã được về Kim Liên. Lớn lên đi bộ đội, học sư phạm chuyên ngành Lịch sử Đảng nên lại có nhiều cơ hội về tìm hiểu, nghiên cứu. Nhưng trong đoàn, nhiều người đây là lần đầu tiên họ được đặt chân tới. Cũng mái nhà tranh như bao ngôi nhà khác ở miền đất này, nhưng cho chúng tôi bao cảm xúc với những tháng năm tuổi ấu thơ của Bác. Thực ra Bác ở Kim Liên khoảng 5 năm, sau đó Bác theo cha vào Huế và từ đó Người đi vào Nam rồi ra đi tìm đường cứu dân tộc ra khỏi áp bức, lầm than. Sau này Người về thăm quê hai lần vào năm 1957 và năm 1961, khi mà chị Thanh, anh Kiêm đã không còn nữa. Trong xúc động, đoàn chúng tôi trịnh trọng đặt bó hoa lên bàn thờ nhà Bác(ở đây Ban quản lý không cho thắp nhang). Trên bàn thờ còn lưu lại kỷ vật  vua Thành Thái ban tặng cho gia đình cụ Sinh Sắc, đó là tấm bảng ghi bốn chữ: “Ân tứ ninh gia”, nghĩa là Vua ban cho gia đình tốt.

     Ghé thăm Thư viện làng Sen, Thư viện do đồng chí Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch Quốc hội sáng lập. Trong căn nhà một trệt một lầu của đồng chí Nguyễn Sinh Hùng, tầng trệt làm thư viện, tầng một là nơi nghỉ mỗi lần đồng chí về quê. Thay mặt Thư viện tỉnh BRVT, chúng tôi trao tặng Thư viện làng Sen 200 bản sách. Đón nhận tình cảm này, cô Lan, cán bộ Thư viện làng Sen bày tỏ lòng biết ơn đối với Thư viện BRVT và vô cùng cảm kích với vùng đất đỏ miền Đông Nam bộ gian lao mà anh dũng.

     Với diện tích 7500 mét vuông trên đại lộ Lênin, một tòa nhà đồ sộ 7 tầng, với đường nét thiết kế hiện đại – Đó là Thư viện tỉnh Nghệ An. Đón chúng tôi, có Ban giám đốc cùng đội ngũ cán bộ chủ chốt của Thư viện Nghệ An. Trong sự chân thành, cởi mở của tình đồng nghiệp - anh Tĩnh, Giám đốc trao đổi và cho chúng tôi biết tổng quan về Thư viện quê hương Bác. Với bề dày truyền thống gần 60 năm, Thư viện Nghệ An đã có nguồn vốn tài liệu trên 240.000 bản sách, 90.000 tên tài liệu, ở đây hình thành kho sách Hồ Chí Minh với trên 3000 bản. Đặc biệt Thư viện Nghệ An có nhiều tài liệu quý, hiếm: 02 cuốn sách lá cây chữ Thái cổ; 02 bộ ván khắc in chữ Hán gồm 50 tấm; 300 cuốn xuất bản trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và 700 cuốn tài liệu Hán nôm, chữ pháp. Sau khi trao tặng Thư viện Nghệ An 200 bản sách và bức tranh Bãi trước Vũng Tàu, cùng với cán bộ Thư viện Nghệ An, chúng tôi ra Cửa Lò – một địa điểm du lịch nổi tiếng của xứ Nghệ. Anh Tĩnh nói với tôi nhiều điều, anh vẫn trăn trở như cụ Phan Bội Châu mà ở đây cũng chưa có điều kiện khai thác. Anh nói, đất này nhiều danh nhân quá, giá ở tỉnh khác chỉ cần có một cụ Phan thôi cũng đủ để làm nổi đình, nổi đám rồi. Nâng li bia chúc mừng nhau ngày về với quê Bác và cũng để chia tay nhau vì ngày mai chúng tôi lại trở vào Nam. Những đợt sóng lô nhô, những làn gió mát mang hương vị mặn mòi của biển, những dòng người đổ về với biển để tránh cái gió Lào và cái nóng 42 độ đến ghê người, bất chợt, tôi nghĩ về Vũng Tàu, ờ nhỉ - mới đó mà đã đi xa 04 ngày rồi!

     “Nữa đêm qua huyện Nghi Xuân/Bâng khuâng nhớ cụ, thương thân nàng Kiều”, đó là nhà thơ Tố Hữu. Còn chúng tôi về Tiên Điền, quê hương đại thi hào Nguyễn Du vào buổi chiều. Dòng sông Lam vẫn thầm lặng trôi xuôi về biển, dãy Hồng Lĩnh với chín mươi chín ngọn núi hùng vĩ vẫn sừng sững ở đó. Mãnh đất của dòng sông Ngàn Sâu, Ngàn Phố, của dòng sông La trong xanh. Chính nơi đây đã sản sinh bao danh nhân đi vào lịch sử: Nguyễn Công Trứ, Trần Phú, Hà Huy Tập, Lý Tự Trọng, Phan Đình Phùng, Huy Cận… Lại nhớ Lê Huy Mậu, mới ngồi uống bia với nhau  tuần trước, mà nay tôi đã về với con sông tuổi thơ để hoài niệm, để được “úp mặt vào sông quê”. Từ quê hương đại thi hào Nguyễn Du, đi vào chừng 40 km, chúng tôi có mặt tại ngã ba Đồng Lộc. Một ngã ba, mà những năm tháng đánh Mỹ, cả miền Bắc XHCN hành quân phải qua nơi này; một ngã ba đã trở thành huyền thoại và đi vào huyền thoại. Ở đây, một tháng máy bay mỹ cày xới đến 28 ngày, một mét vuông đất phải gánh chịu trên mình hơn ba quả bom. Trong những tháng năm ác liệt đó, thời điểm cao nhất có đến 1,6 vạn người phục vụ thông đường để chi viện cho chiến trường miền Nam “Địch phá một, ta làm mười, đường ta cứ đi, mà xe ta cứ vượt”. Đoàn chúng tôi kính cẩn nghiêng mình trước 4000 liệt sỹ thanh niên xung phong, họ đã hy sinh, nhưng linh hồn vẫn luôn nghĩ về nhau, nhường nhịn, san sẽ cho nhau của tình đồng đội đồng chí chân thành, tha thiết: “Bát nhang cắm thế đủ rồi/Còn hương nữa hãy dành cho đất/Ngã xuống nơi này đâu chỉ có chúng tôi/Bao xương máu mới làm nên Đồng Lộc/Lòng tưởng nhớ xin chia đều cho khắp/Như cỏ trong thung, như nắng trên đồi”(Vương Trọng).

     Không ai có thể cầm được nước mắt khi được chứng kiến về mười cô gái thanh niên thuộc Tiểu đội 4, Đại đội 552, Tổng đội 55 thanh niên xung phong. Mười cô hy sinh trong ngày 24/7/1968, cô trẻ nhất lúc đó bước sang tuổi 17, cô lớn tuổi nhất chỉ vừa tròn 24. Các cô mãi mãi yên nghỉ ở tuổi đôi mươi! Chúng tôi lần lượt thắp lên mộ từng chị một nhén nhang và đặt lên một bông cúc trắng. Tôi đã xem rất nhiều lần bộ phim “Ngã ba Đồng Lộc” của đạo diễn Lưu Trọng Ninh, đã đọc đến thuộc lòng bài thơ “Cúc ơi” của nhà thơ Yến Thanh. Vô cùng xúc cảm khi đứng trước mộ các chị, trong đó có mộ chị Cúc - người đồng hương, đoàn chúng tôi cầu mong cho linh hồn các chị mãi mãi bình yên nơi chín suối. Xin nói thêm một chút về chị Cúc: Chị quê ở xã Sơn Bằng, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh; mồ côi cha lúc một tuổi, mẹ đi lấy chồng, Cúc phải ở với chú, suốt ngày đi chăn trâu, cắt cỏ; lớn lên đi thanh niên xung phong. 14g ngày 24/7/1968, một quả bom dội trúng hầm 10 cô trú ẩn, cả tiểu đội hy sinh. Hai tiếng đồng hồ sau, đồng đội tìm thấy thi thể 9 cô, riêng Hồ Thị Cúc mãi ba ngày sau mới tìm được: “Tiểu đội đã về xếp một hàng ngang/Cúc ơi, em ở đâu không về tập hợp/ Chín bạn đã quây quần đủ mặt: Nhỏ, Xuân, Hà, Hường, Hợi, Rạng, Xuân, Xanh/Chỉ thiếu mình em/Chín bỏ làm mười răng được/Bọn anh đã bới tìm vẹn cuốc/Đất sâu bao nhiêu bọn anh không cần/Chỉ sợ em đau nên nhát cuốc chùng/Cúc ơi, em ở đâu/Đất nâu lạnh lắm/Da em thì xanh/Áo em thì mỏng/Cúc ơi, em ở đâu/Về với bọn anh tắm nước sông Ngàn Phố/Ăn quýt đỏ Sơn Bằng/Chăn trâu cắt cỏ/ Bài toán lớp năm em còn chưa nhớ/Gối còn thêu dở/Cơm chiều chưa ăn/Em ở đâu hỡi Cúc/Đồng đội tìm em: đũa găm, cơm úp/Gọi em/Gào em/Khản cả cổ rồi…” Bài thơ của nhà thơ Yến Thanh như một tiếng gọi hồn, nghe đến xé lòng!

     Tôi đã từng đắm mình với những bài lịch sử do các giáo sư “cây đa, cây đề” trong ngành sử học nước nhà giảng dạy; đã từng có hạnh phúc được giảng dạy cho nhiều thế hệ cán bộ, sinh viên về lịch sử nước nhà. Nhưng chuyến đi cho tôi thêm nhiều cảm xúc xen lẫn bao nghĩ suy. Có lẽ, nay mai tôi sẽ đưa ba đứa con tôi, sau này nữa sẽ đưa các cháu tôi về với Kim Liên, Tiên Điền, nghĩa trang Trường Sơn, ngã ba Đồng Lộc…để tận mắt chứng kiến, cảm nhận đúng nhất, thật nhất, đầy đủ nhất và có sức cảm hóa lòng người nhất những gì dân tộc ta đã trãi qua. Xin cảm ơn Chi bộ, cảm ơn BCH Công đoàn đã tổ chức một chuyến đi đầy ý nghĩa như thế!

NGUYỄN QUANG PHI

Thành phố Vinh, 02/5/2012 Vũng tàu, 07/5/2012