26/11/2015

Những bất cập đối với hoạt động thư viện và chế độ, chính sách đối với viên chức ngành Thư viện hiện nay

     Luật viên chức được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 15/11/2010 và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2012 đã thực sự trở thành một căn cứ pháp lý quan trọng để bước đầu đổi mới cơ chế quản lý đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính ở khu vực dịch vụ công của nước ta hiện nay.

     Luật viên chức ra đời đã cụ thể hoá các quy định về cơ chế tổ chức và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp nói chung và đối với ngành thư viện nói riêng, cụ thể: 

     - Tách đối tượng cán bộ, công chức và viên chức ra để điều chỉnh thành 02 luật cụ thể: (Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức) cho phù hợp với đặc điểm, tính chất lao động của đội ngũ viên chức, theo đó quyền và nghĩa vụ viên chức được mở rộng hơn so với Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 2003. 

     - Các quy định về tuyển dụng, sử dụng đội ngũ viên chức được phân biệt phù hợp hơn với đặc điểm hoạt động của viên chức và đơn vị sự nghiệp công lập. Việc tổ chức thực hiện tuyển dụng chủ yếu giao cho người đứng đầu đơn vị sự nghiệp quyết định và thực hiện ký kết hợp đồng làm việc đối với người trúng tuyển; việc bổ nhiệm, thay đổi chức danh nghề nghiệp được thực hiện qua thi cử hoặc xét để bổ nhiệm thay cho ngạch viên chức hiện nay, viên chức đủ điều kiện tiêu chuẩn được đăng ký thi hoặc xét tuyển để thay đổi chức danh nghề nghiệp khi đơn vị sự nghiệp có nhu cầu…

     - Quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp công lập như: cơ chế tiền lương, chính sách đãi ngộ viên chức; chế độ tuyển chọn, sử dụng; đánh giá viên chức có những bước tiến đáng kể.  Trong đó, quan trọng nhất là đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thực hiện hạch toán độc lập, nhằm tạo động lực nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức và cải cách khu vực sự nghiệp dịch vụ công.

     - Việc xác định chức danh viên chức trong từng khu vực hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập bước đầu đáp ứng kịp thời với yêu cầu đổi mới của đất nước. Chức danh nghề nghiệp của viên chức thể hiện trình độ và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của viên chức trong từng lĩnh vực nghề nghiệp, do đó vị trí làm việc của viên chức trong cơ cấu tổ chức bộ máy của đơn vị sự nghiệp được xác định rõ ràng hơn, việc đánh giá, tôn vinh tài năng viên chức được xác đáng hơn.

     Những đặc điểm trên được Chính phủ, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch và các bộ, ngành Trung ươngcụ thể hoá thông qua các văn bản hướng dẫn thi hành như:

     - Nghị định số 29/2012/NĐ-CP của Chính phủ: Về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức;

     - Nghị định số 41/2012/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định về vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập

     - Thông tư số 12/2012/TT-BNV của Bộ Nội vụ: Quy định về chức danh nghề nghiệp và thay đổi chức danh nghề nghiệp đối với viên chức

     - Thông tư số 15/2012/TT-BNV của Bộ Nội vụ: Hướng dẫn về tuyển dụng, ký kết hợp đồng làm việc và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức

     - Thông tư số 16/2012/TT-BNV của Bộ Nội vụ: Ban hành Quy chế thi tuyển, xét tuyển viên chức; Quy chế thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với viên chức và Nội quy kỳ thi tuyển, thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với viên chức

     - Thông tư số 14/2012/TT-BNV của Bộ Nội vụ: Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 41/2012/NĐ-CP ngày 08 tháng 5 năm 2012 của Chính phủ quy định về vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập.

     Riêng đối với lĩnh vực thư viện, ngoài những quy định chung của Luật và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn trên. Hoạt động thư viện còn chịu sự điều chỉnh và hướng dẫn riêng của Bộ VHTTDL bằng các Thông tư mang tính căn bản như: Thông tư số 67/2006/TT-BVHTT, ngày 10/8/2006 của Bộ VHTT Hướng dẫn phân hạng và thực hiện chế độ phụ cấp chức vụ lãnh đạo trong các tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công lập hoạt động văn hoá - thông tin; Thông tư số 18/2014/TT-BVHTTDL, ngày 08/12/2014, Quy định về hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ thư viện; và mới nhất là Thông tư Liên tịch số 02/2015/TTLT-BVHTTDL-BNV, ngày 19/5/2015, Quy định mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành thư viện.

     Mặc dù, cũng là đơn vị sự nghiệp công lập, sử dụng 100% vốn ngân sách do nhà nước cấp cho hoạt động sự nghiệp hàng năm; cũng được điều chỉnh bởi Luật Viên chức và chịu sự hướng dẫn thi hành của Chính phủ và các bộ, ngành trung ương, nhưng hệ thống thiết chế thư viện công cộng và đội ngũ cán bộ, viên chức của ngành thư viện lại không được hưởng các chế độ tương xứng và ngang hàng với các ngành khác và thậm chí là các đơn vị khác thuộc ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch về chế độ chính sách đối với CBVC, xếp hạng đơn vị sự nghiệp, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, các loại phụ cấp ngành nghề, chế độ đào tạo, bồi dưỡng… Những bất cập, rào cản trên được thể hiện thông qua các nội dung như sau:

     Thứ nhất: Về Quy định xếp hạng thư viện

     Theo quy định xếp hạng tại Thông tư 67/2006/TT-BVHTT ngày 10/8/2006 của Bộ Văn hóa - Thông tin thì việc xếp hạng thư viện chủ yếu là căn cứ vào cấp hành chính để xếp hạng (Thư viện Quốc gia hạng I; Thư viện Tp. Hà Nội, Tp. HCM hạng II, Thư viện các tỉnh còn lại là hạng III..), Thông tư đã đánh đồng các thư viện cấp tỉnh trong toàn quốc với nhau mà không xét theo tiêu chuẩn về diện tích, cơ sở vật chất, trang thiết bị, vốn tài liệu sách, báo, chất lượng kho sách, chất lượng phục vụ bạn đọc và điều kiện thực tế của từng địa phương..., và thậm chí cũng là các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở VHTTDL như nhau nhưng hạng của các đơn vị lại khác nhau: Thư viện xếp hạng III, trong khi các đơn vị còn lại như Bảo tàng, Trung tâm Văn hóa, Trung tâm Phát hành phim và Chiếu bóng, Đoàn Ca Múa nhạc… lại được xếp hạng II.... Chính điều này là một trong những nguyên nhân cản trở rất lớn và làm triệt tiêu động lực phát triển của các thư viện tỉnh, thành trong cả nước về chính sách đầu tư kinh phí cho hoạt động thư viện, nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng…

     Thứ hai: Về thăng hạng chức danh nghề nghiệp

     - Sau hơn 3 năm triển khai Luật Viên chức, thế nhưng đến nay việc nâng ngạch viên chức nói chung và ngành thư viện nói riêng vẫn chưa được thực hiện do chưa có văn bản hướng dẫn thăng hạng chức danh nghề nghiệp của các bộ ngành liên quan.

     - Mặt khác, theo quy định tại Thông tư Liên tịch số 02/2015/TTLT-BVHTTDL-BNV, thì những CBVC được đào tạo về chuyên ngành thư viện hoặc chuyên ngành khác có liên quan. Nếu học chuyên ngành khác phải có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp chuyên ngành thư viện do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp thì mới được xếp vào ngạch thư viện viên và có cơ hội trong việc thăng hạng chức danh nghề nghiệp về sau. Điều bất hợp lý của Thông tư này là ở chỗ, cũng là CBVC làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập nói chung và ngành thư viện nói riêng, hưởng lương từ đơn vị sự nghiệp nhưng có trình độ đào tạo và xếp lương ở các ngạch khác như: kỹ sư CNTT, cử nhân kế toán, chuyên viên hành chính, văn thư lưu trữ… thì sẽ không được điều chỉnh và không có quy định trong việc thăng hạng chức danh nghề nghiệp thuộc ngành thư viện và các ngành khác thì lại càng không thể vì những CBVC này không thuộc diện điều chỉnh của các ngành khác. Vậy, những đối tượng này sẽ thăng hạng chức danh nghề nghiệp ở đâu? Và đơn vị nào sẽ xét thăng hạng cho họ hay là những đối tượng này nằm ngoài tất cả sự điều chỉnh của Nhà nước và trước hết là Bộ VHTTDL?

     Thứ ba: Quy định về trình độ đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp đối với viên chức thư viện

    - Thông tư Liên tịch số 02/2015/TTLT-BVHTTDL-BNV quy định chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành thư viện gồm 3 hạng (II, III, IV) và đã xoá bỏ ngạch thư viện viên Cao đẳng mã ngạch 17a.170 như trước đây để nhập ngạch thư viện viên Cao đẳng vào cùng với ngạch Thư viện viên hạng IV (gồm có trình độ Cao đẳng và trung cấp) và hưởng bậc lương và hệ số lương theo trình độ trung cấp.

     - Ở đây chúng ta thấy có một sự bất hợp lý đối với chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành thư viện với các chức danh nghề nghiệp viên chức ở các ngành, lĩnh vực khác ở tiêu chuẩn về trình độ đào tào, bồi dưỡng như sau:

     + Đối với ngành thư viện: CBVC có trình độ Cao đẳng không được xếp ngạch và hệ số lương riêng mà chỉ xếp hạng III đối với người có trình độ đại học và hạng IV đối với người có trình độ Cao đẳng và Trung cấp (Điều 5, Điều 6, Thông tư liên tịch số 02/2015/TTLT-BVHTTDL-BNV).

     + Đối với ngành giáo dục: CBVC có trình độ Cao đẳng được xếp hạng III và hệ số lương từ 2.10 (Điều 5, Điều 9 Thông tư liên tịch số 21/2015/TTLT-BGDĐT-BNV quy định mã số và phân hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên tiểu học, THCS trong các trường tiểu học công lập).

     + Đối với lĩnh vực Thể dục, Thể thao: CBVC có trình độ đại học hoặc trường hợp tốt nghiệp cao đẳng chuyên ngành Thể dục thể thao thì phải là vận động viên cấp 1 trở lên; được xếp chung vào hạng III về có hệ số lương là 2.34 (Điều 5, Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BVHTTDL-BNV quy định mã số và chức danh nghề nghiệp viên chức ngành thể dục thể thao).

     Thứ tư: Chế độ chính sách đối với viên chức thư viện

     - Hiện nay, ngoài chế độ phụ cấp độc hại và bồi dưỡng bằng hiện vật đối với viên chức làm công tác thư viện (chỉ những người làm việc trực tiếp với sách, báo) theo quy định tại Thông tư số 26/2006/TT-BVHTT của Bộ Văn hóa - Thông tin và Thông tư liên tịch số: 13/2012/TTLT-BLĐTBXH-BYT ngày 30/5/2012 của Bộ lao động Thương binh xã hội và Bộ Y tế, thì viên chức thư viện không được hưởng thêm bất kỳ một chế độ nào khác và thậm chí còn phải bị trừ thêm 1% bảo hiểm thất nghiệp vào bảng lương hàng tháng. Mặc dù, họ là những công chức (đối với thủ trưởng đơn vị), viên chức thuộc biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước với vị trí làm việc ổn định, lâu dài và có thể nói là không thể thất nghiệp theo quy định của Luật hiện hành. 

     - Trong khi đó, đội ngũ công chức và những người hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP như lái xe, tạp vụ, bảo vệ, điện nước… nếu làm việc tại các cơ quan quản lý nhà nước lại được xem là công chức và được hưởng phụ cấp công vụ là 25% nếu ở khối chính quyền và 55% nếu ở khối đảng, đoàn thể. Chưa kể là khối giáo dục, khối tư pháp, khối lực lượng vũ trang…, bên cạnh các khoảng phụ cấp chung họ còn được thêm các khoản phụ cấp thâm niên, phụ cấp ngành nghề đặc thù, phụ cấp trách nhiệm…

     - Ngoài ra, cũng trong ngành Văn hoá, những viên chức làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn lại được thêm chế độ phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp và chế độ bồi dưỡng theo 4 mức: 35.000 đồng/buổi tập; 50.000 đồng/buổi tập; 60.000 đồng/buổi tập; 80.000 đồng/buổi tập. Chế độ bồi dưỡng biểu diễn tính theo số buổi biểu diễn và phục vụ biểu diễn thực tế, gồm 4 mức: 80.000 đồng/buổi diễn; 120.000 đồng/buổi diễn; 160.000 đồng/buổi diễn; 200.000 đồng/buổi diễn.Trong đó, mức 200.000 đồng/buổi diễn, áp dụng đối với diễn viên chính, nhạc công chính, người chỉ đạo nghệ thuật chương trình nghệ thuật ca múa nhạc, người chỉ đạo nghệ thuật vở diễn sân khấu (Quyết định 14/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ).   

     Từ những bất cập, những rào cản trong quy định xếp hạng thư viện và những bất hợp lý trong việc sử dụng, quản lý và thực hiện chế độ chính sách đối với viên chức làm công tác thư viện như hiện nay. Thiết nghĩ, đã đến lúc các cơ quan chức năng liên quan mà trước hết là Bộ VHTTDL và các bộ, ngành Trung ương cần sớm nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung và kiến nghị Chính phủ hoàn thiện các quy định hiện hành đối với lĩnh vực thư viện. Cần tách biệt rạch ròi giữa đơn vị sự nghiệp công lập không có thu và đơn vị sự nghiệp có thu hay đơn vị hạch toán kinh doanh theo hình thức doanh nghiệp nhà nước để có các chính sách phù hợp với từng loại hình đơn vị sự nghiệp. Có như vậy mới tạo sự công bằng đối với những người làm việc và hưởng lương từ ngân sách nhà nước giữa những người được gọi là cán bộ, công chức và viên chức như hiện nay.

Thế Vinh

   Thư viện tỉnh BR-VT