Từ những bài học của giai đoạn trước
Giai đoạn 2021-2025, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được triển khai trong bối cảnh lần đầu tiên có một chương trình mục tiêu quốc gia được thiết kế riêng cho địa bàn và đối tượng này. Quá trình thực hiện đã tạo ra nhiều chuyển biến về kết cấu hạ tầng, sinh kế, giảm nghèo, giáo dục, y tế, văn hóa và đời sống của đồng bào.
Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy một số hạn chế về cơ chế quản lý, phối hợp và tổ chức thực hiện. Hệ thống dự án, tiểu dự án, nội dung thành phần tương đối nhiều; quy trình ở một số khâu còn phức tạp; năng lực triển khai giữa các địa phương không đồng đều; việc hướng dẫn một số nội dung chưa thật sự đồng bộ, dẫn tới cách hiểu và vận dụng khác nhau. Đây là những vấn đề cần được rút kinh nghiệm khi tổ chức thực hiện chương trình trong giai đoạn mới.
Nghị quyết số 111/2024/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia đã bước đầu mở rộng quyền chủ động cho địa phương, trong đó có việc phân bổ, giao dự toán, điều chỉnh kế hoạch vốn và quy định trình tự, thủ tục, tiêu chí, mẫu hồ sơ lựa chọn dự án phát triển sản xuất. Nghị quyết cũng cho phép thí điểm phân cấp cho cấp huyện trong quản lý, tổ chức thực hiện chương trình trong giai đoạn 2024-2025.
Những cơ chế này cho thấy một yêu cầu ngày càng rõ: với những chương trình có địa bàn rộng, đối tượng đa dạng và nhu cầu hỗ trợ khác nhau giữa các vùng, việc quản lý quá sâu từ Trung ương không phải lúc nào cũng tạo ra hiệu quả cao nhất. Điều quan trọng là Trung ương xác định rõ mục tiêu, nguyên tắc, tiêu chí, tiêu chuẩn, cơ chế kiểm tra, giám sát; còn địa phương cần được trao quyền lựa chọn cách thức tổ chức thực hiện phù hợp với điều kiện thực tế và chịu trách nhiệm về kết quả.
Đây cũng là tinh thần cần tiếp tục được phát huy trong giai đoạn 2026-2030.
Một bước phát triển quan trọng đã được xác lập bằng Quyết định số 16/2026/QĐ-TTg ngày 15/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ, quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030. Quyết định có hiệu lực ngay từ ngày ban hành.
Việc ban hành cơ chế phân bổ vốn từ đầu giai đoạn có ý nghĩa quan trọng đối với công tác lập kế hoạch của địa phương. Tuy nhiên, sau khi Quốc hội thông qua Nghị quyết số 46/2026/QH16, yêu cầu đặt ra đã được mở rộng sang một khuôn khổ chương trình tích hợp mới.
Nghị quyết 46 tạo khuôn khổ mới cho tổ chức thực hiện
Ngày 24/8/2026, Quốc hội khóa XVI thông qua Nghị quyết số 46/2026/QH16 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày được thông qua.
Theo Nghị quyết, Chương trình mới được hình thành trên cơ sở hợp nhất 4 Chương trình mục tiêu quốc gia đã được Quốc hội phê duyệt, gồm: Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa; Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển.
Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, việc hợp nhất không làm thay đổi, thu hẹp mục tiêu, phạm vi, đối tượng thụ hưởng, quyền lợi và mức độ ưu tiên đã được xác định trước đó. Ngược lại, Nghị quyết yêu cầu duy trì nguyên tắc ưu tiên xuyên suốt đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong các nhóm nhiệm vụ về hạ tầng, sinh kế, giáo dục, y tế, văn hóa và chuyển đổi số; kết quả thực hiện được theo dõi, báo cáo riêng để phục vụ công tác giám sát.
Đây là điểm cần được quán triệt khi tổ chức thực hiện. Việc “hợp nhất” không nên được hiểu đơn thuần là gom các chương trình vào một đầu mối, mà phải hướng tới tích hợp chính sách và nguồn lực, khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, chồng chéo, đồng thời vẫn bảo đảm các chính sách đặc thù đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Nghị quyết số 46/2026/QH16 đặt mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi xuống dưới 10% vào năm 2030Nghị quyết số 46/2026/QH16 xác định mục tiêu đến năm 2030 đối với lĩnh vực này là phấn đấu thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số bằng một nửa mức bình quân chung của cả nước; giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi xuống dưới 10%; cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn; đồng thời phấn đấu cả nước có khoảng 65% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó khoảng 10% số xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại.
Đến năm 2035, mục tiêu tiếp tục được nâng lên, trong đó phấn đấu giảm ít nhất 50% số xã, thôn khó khăn trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; phấn đấu có 5 tỉnh, thành phố vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi không còn xã, thôn khó khăn.
Những mục tiêu này đặt ra yêu cầu rất cao đối với công tác tổ chức thực hiện ở cơ sở. Nếu giai đoạn trước còn có thể tập trung vào việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế, thì giai đoạn mới phải chuyển mạnh sang tổ chức thực hiện nhanh, đúng và đo lường được kết quả.
Trao quyền phải gắn với trách nhiệm
Một trong những thay đổi đáng chú ý của cơ chế mới là yêu cầu phân bổ nguồn lực theo mục tiêu, đối tượng, mức độ thiếu hụt và kết quả thực hiện, thay vì tư duy phân bổ bình quân. Nghị quyết số 46/2026/QH16 yêu cầu việc phân bổ ngân sách phải có trọng tâm, trọng điểm, tránh manh mún, dàn trải; ưu tiên cao nhất cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng an toàn khu, biên giới, hải đảo.
Nghị quyết cũng quy định tiêu chí phân bổ ngân sách trung ương phải kết hợp giữa tiêu chí chung và tiêu chí đặc thù của từng lĩnh vực, gắn với mục tiêu, chỉ tiêu, đối tượng thụ hưởng và mức độ thiếu hụt dịch vụ cơ bản của từng địa bàn. Ngân sách hằng năm được phân bổ căn cứ vào nhu cầu, kết quả thực hiện mục tiêu, giải ngân, tiến độ và mức độ sẵn sàng thực hiện.
Cách tiếp cận này đòi hỏi các địa phương phải thay đổi phương thức lập kế hoạch. Thay vì chờ nguồn vốn rồi mới xác định dự án, địa phương cần chủ động rà soát nhu cầu, xác định rõ nhóm đối tượng, chuẩn bị danh mục dự án, hoàn thiện hồ sơ và tính toán khả năng thực hiện ngay từ đầu năm.
Đối với các địa bàn khó khăn, yêu cầu chuẩn bị đầu tư càng có ý nghĩa. Nghị quyết 46 đã tính đến cơ chế hỗ trợ chuẩn bị đầu tư, hướng dẫn kỹ thuật đối với những địa phương còn hạn chế về năng lực giải ngân và chuẩn bị dự án, đồng thời yêu cầu không làm giảm khả năng tiếp cận nguồn lực của địa phương khó khăn, tránh gia tăng chênh lệch giữa các vùng.
Như vậy, phân cấp không đồng nghĩa với việc Trung ương giảm trách nhiệm. Trách nhiệm của Trung ương chuyển mạnh sang xây dựng thể chế, ban hành tiêu chí, định mức, hướng dẫn kỹ thuật, kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả; trong khi địa phương được chủ động hơn trong lựa chọn nhiệm vụ, tổ chức thực hiện và sử dụng nguồn lực theo mục tiêu đã được giao.
Đối với địa phương, quyền chủ động càng lớn thì yêu cầu về trách nhiệm giải trình càng cao. Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và người đứng đầu các cấp cần xác định rõ mục tiêu, tiến độ, nguồn lực, sản phẩm đầu ra và trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị. Cùng với đó là tăng cường giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng dân cư và người dân.
Chủ động chuẩn bị để nguồn lực không bị phân tán
Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vấn đề không phải là quy mô nguồn lực lớn hay nhỏ mà là khả năng hấp thụ và chuyển hóa nguồn lực thành kết quả phát triển. Do đó, các địa phương cần khắc phục tình trạng lập kế hoạch dàn trải, chia nhỏ nguồn vốn cho quá nhiều nhiệm vụ, dự án.
Nguồn lực cần tập trung vào những vấn đề cấp thiết và có khả năng tạo tác động lan tỏa: hạ tầng thiết yếu, giao thông kết nối, nước sinh hoạt, trường học, cơ sở y tế, sinh kế, đào tạo nghề, phát triển sản xuất, chuyển đổi số, bảo tồn văn hóa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Đối với các dự án phát triển sản xuất, cần đặc biệt coi trọng tính khả thi của phương án sau hỗ trợ. Một dự án chỉ thực sự có hiệu quả khi người dân có thể duy trì hoạt động sản xuất, tiêu thụ được sản phẩm, tạo thu nhập và từng bước giảm sự phụ thuộc vào hỗ trợ ngân sách.
Nghị quyết 46 cũng quy định đối với các dự án phát triển sản xuất, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh căn cứ khả năng cân đối ngân sách địa phương quyết định tổng mức hỗ trợ, mức hỗ trợ cụ thể và số lần hỗ trợ. Đây là biểu hiện rõ hơn của nguyên tắc trao quyền cho địa phương lựa chọn cách thức hỗ trợ phù hợp với điều kiện thực tế.
Tuy nhiên, quyền quyết định cần đi cùng hệ thống kiểm tra, giám sát dựa trên kết quả. Cần hạn chế việc đánh giá một địa phương chủ yếu qua số lượng dự án, số cuộc họp hay tỷ lệ giải ngân, mà phải quan tâm đến những thay đổi thực tế: thu nhập của người dân tăng bao nhiêu, bao nhiêu hộ thoát nghèo bền vững, công trình sau đầu tư được sử dụng như thế nào, người dân được hưởng thêm dịch vụ gì và mức độ hài lòng của đối tượng thụ hưởng ra sao.
Khẩn trương hoàn thiện cơ chế để không tạo khoảng trống chính sách
Nghị quyết số 46/2026/QH16 mới phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình giai đoạn 2026-2035. Để đưa Chương trình vào vận hành đầy đủ, Chính phủ và các bộ, ngành còn phải hoàn thiện hệ thống văn bản quy định nội dung, cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện.
Nhiệm vụ cấp thiết trước mắt là sớm hoàn thiện và ban hành đồng bộ các văn bản hướng dẫn, bảo đảm các địa phương có đủ căn cứ pháp lý để lập kế hoạch, phân bổ vốn, chuẩn bị đầu tư và tổ chức thực hiện. Đặc biệt, cần hạn chế tối đa tình trạng mỗi văn bản hướng dẫn một cách hiểu, hoặc cùng một quy định nhưng địa phương phải chờ nhiều cấp giải thích mới có thể thực hiện.
Cùng với hoàn thiện thể chế, cần kiện toàn đội ngũ trực tiếp triển khai Chương trình tại cơ sở. Sau quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy và vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, việc xác định rõ cơ quan đầu mối, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm của từng cấp càng trở nên cần thiết.
Cán bộ cơ sở phải được trang bị đầy đủ kiến thức về quản lý ngân sách, đầu tư công, hỗ trợ phát triển sản xuất, đấu thầu, giám sát cộng đồng, chuyển đổi số và các chính sách đặc thù đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Đối với những địa bàn có năng lực quản lý còn hạn chế, cơ chế hỗ trợ kỹ thuật và chuẩn bị đầu tư cần được triển khai thực chất, thay vì chỉ tăng thêm các lớp tập huấn mang tính phổ biến văn bản.
Đồng thời, cần xây dựng cơ chế theo dõi, đánh giá thống nhất dựa trên dữ liệu. Nghị quyết 46 đặt vấn đề quản lý, vận hành cơ sở dữ liệu dùng chung, chuyển đổi số, kiểm tra, đánh giá và truyền thông trong tổ chức thực hiện Chương trình. Đây là cơ sở để chuyển từ phương thức quản lý nặng về hồ sơ sang quản lý dựa trên dữ liệu và kết quả đầu ra.
Trong điều kiện đó, các địa phương cần chủ động xây dựng hệ thống dữ liệu về đối tượng thụ hưởng, nhu cầu hỗ trợ, tiến độ dự án, giải ngân, kết quả đầu ra và mức độ hưởng lợi của người dân. Dữ liệu càng đầy đủ, chính xác thì việc phân bổ nguồn lực càng có cơ sở và khả năng điều chỉnh chính sách càng kịp thời.
Nghị quyết số 46/2026/QH16 đã đặt vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong một chương trình phát triển tổng thể, liên kết giữa hạ tầng, sinh kế, giảm nghèo, giáo dục, y tế, văn hóa và chuyển đổi số. Mục tiêu không chỉ là giải quyết từng thiếu hụt riêng lẻ mà hướng tới thu hẹp khoảng cách phát triển và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, yêu cầu quan trọng trong giai đoạn 2026-2030 là chủ động triển khai cơ chế ngay từ cơ sở. Trung ương cần sớm hoàn thiện hành lang pháp lý, tiêu chí, định mức và hướng dẫn kỹ thuật; địa phương phải chủ động lập kế hoạch, chuẩn bị dự án, xác định đúng nhu cầu và chịu trách nhiệm về kết quả; các cơ quan giám sát cần chuyển mạnh sang giám sát tiến độ, chất lượng và hiệu quả đầu ra.
Khi quyền chủ động của địa phương được đặt trong một hệ thống mục tiêu rõ ràng, nguồn lực được phân bổ theo mức độ thiếu hụt và kết quả thực hiện, còn trách nhiệm giải trình được tăng cường, cơ chế mới sẽ có điều kiện phát huy hiệu quả. Đây là cơ sở để nguồn lực của Chương trình không chỉ được giải ngân đúng tiến độ mà quan trọng hơn là chuyển hóa thành những kết quả cụ thể về thu nhập, giảm nghèo, hạ tầng, giáo dục, y tế, văn hóa và chất lượng cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi./.
Hải Vân/tcnnld.vn